Bệnh sởi: Dấu hiệu nhận biết và Phương pháp điều trị

10/02/2014 | 2:34 PM

Bệnh sởi và cách điều trị

Bệnh sởi (tiếng Anh: measles hay rubeola) là bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong nhi khoa. Trước đây bệnh xảy ra rất thường xuyên và có tỷ lệ lây nhiễm cũng như tử vong rất cao nhưng gần đây không còn phổ biến nhờ vào chương trình tiêm chủng mở rộng.

Hiện nay, bệnh đang có dấu hiệu bùng phát trở lại, nguyên nhân có thể do chủ quan, không tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch.

Theo dân gian, bệnh sởi còn được gọi là bệnh đau ban đỏ. Nguyên nhân gây bệnh là virus sởi, đây là một loại virus ARN thuộc chi Morbilivirus nằm trong họ Paramyxoviridae.

Sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuất hiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao.

Benh soi o tre em

Ảnh: Sưu tầm Internet

Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh sơi, Hãy phòng bênh cho trẻ bằng cách tiêm phòng đầy đủ!

Đường lây truyền của bệnh sởi

Chủ yếu là đường hô hấp, như qua nước bọt, hắt hơi, sổ mũi hoặc do hít phải mầm bệnh từ môi trường bên ngoài của bệnh (do mầm bệnh có thể tồn tại ngoài môi trường hơn một giờ).

Triệu chứng của bệnh sởi

Có thể chia làm các giai đoạn :

  • Thời kỳ ủ bệnh:

Từ lúc bị nhiễm virus đến lúc có triệu chứng bệnh, trung bình là 10 ngày (có thể thay đổi từ 7đến 18ngày), trẻ có thể sốt nhẹ.

  • Thời kỳ khởi phát (còn gọi là thời kỳ viêm long):

Đây là thời kỳ hay lây nhất, kéo dài từ 3 đến 5 ngày với các biểu hiện như sau:

Sốt: sốt nhẹ hoặc sốt cao 39,5oC đến 40oC, có thể có sốt cao co giật, kèm mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ, đau khớp.

Viêm long (có triệu chứng giống như cảm cúm): thường xảy ra ở mắt và mũi, gây chảy nước mắt, đổ nghèn nhiều, kết mạc mắt đỏ, bệnh nhân sợ ánh sáng, giác mạc và mi mắt có thể bị sưng phù, hắt hơi, sổ mũi, ho đờm, khàn giọng. Có thể gây viêm thanh quản co rút, nếu có triệu chứng viêm long ở đường tiêu hóa sẽ gây tiêu chảy.

Khám họng trong giai đoạn này có thể thấy những chấm trắng nhỏ khoảng 1mm mọc trên nền niêm mạc má viêm đỏ, có vị trí ngay với răng hàm thứ nhất, đó là dấu “Koplik” rất có giá trị để giúp chẩn đoán khi phát ban. Thời gian tồn tại của dấu hiệu này khoảng 12 đến 18 giờ.

  • Thời kỳ toàn phát (hay còn gọi là thời kỳ phát ban):

Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai, sau đó lan dần lên 2 bên má, cổ, ngực, bụng và phần chi trên trong vòng 24 giờ. Trong 24 gờ kế tiếp, ban lan xuống lưng, bụng, 2 tay và sau cùng là 2 chân trong từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 của bệnh. Ban sởi màu hồng nhạt, ấn vào mất, thường kết dính lại. Trong trường hợp nhẹ, ban mọc thưa thớt. Đối với những trường hợp nặng, ban mọc dày đặc cả lòng bàn tay, bàn chân, đôi khi có ban xuất huyết cơ thể kèm chảy máu mũi, miệng, xuất huyết tiêu hóa.

Dấu hiệu Koplik

Ảnh: Sưu tầm Internet

Ảnh: Sưu tầm Internet

Khuôn mặt bé bị sởi

Khuôn mặt bé bị sởi

Ảnh: Sưu tầm Internet

Ban sởi toàn thân

Ban soi toan than

Ảnh: Sưu tầm Internet

  • Thời kỳ phục hồi:

Ban sởi bay theo trình tự xuất hiện để lại vùng da bị ảnh hưởng những vết thâm đen trên bề mặt da loang lỗ như da cọp nên được gọi là “vết vằn da hổ”

Chẩn đoán sởi

Chủ yếu dựa vào lâm sàng, với các triệu chứng viêm họng với phát ban theo trình tự xuất hiện và khám họng thấy có dấu “Koplik”. Thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi chưa mắc sởi lần nào. Gần đây bệnh đang có xu hướng tăng lên ở những trẻ 9 – 12 tháng tuổi chưa được tiêm phòng sởi. Cũng có thể gặp các cháu sống trong tập thể nhà trẻ, trường học và gia đình có người thân mắc bệnh.

Biến chứng của bệnh sởi:

Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm trong hoặc sau khi mắc bệnh sởi:

  • Viêm phổi: thường là do bội nhiễm các vi khuẩn khác như phế cầu, liên cầu, tụ cầu…
  • Lao: sởi làm tăng nguy cơ trầm trọng bệnh lao tiềm ẩn và làm gia tăng mức độ lao sơ nhiễm.
  • Viêm tai giữa: sốt cao, quấy khóc, chảy mủ 1 hoặc 2 bên tai.
  • Viêm thanh quản: có thể kèm cơn khó thở về đêm, ho hen, khàn giọng, nếu nặng có thể khó thở thanh quản.
  • Viêm não tủy (0,1 – 0,2%): có thể xảy ra sớm hơn 2 tuần với triệu chứng sốt cao, nôn ói, nhức đầu, lơ mơ, co giật.
  • Xuất huyết giảm tiểu cầu: thường xảy ra từ ngày 3 đến ngày 5

Một số chứng bệnh khác:

  • Viêm kết mạc mắt, dẫn đến loét giác mạc do thiếu Vitamin A dẫn đến mù.
  • Viêm cơ tim
  • Viêm loét niêm mạc má, miệng (dân giang còn gọi là cam tẩu mã)
  • Viêm hạch mạc treo ruột, gây đau bụng
  • Viêm gan: gây vàng da, tăng men gan (chủ yếu gặp ở người lớn)
  • Viêm cầu thận cấp
  • Hội chứng Guillain Barré.

Phương pháp điều trị bệnh sởi :

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, nâng cao sức đề kháng. Nên cho trẻ nghỉ ngơi, giữ ấm, tránh tiếp xúc với ánh sáng mạnh trong giai đoạn sợ ánh sáng. Chế độ ăn giầu chất dinh dưỡng và dễ tiêu hóa, giữ gìn vệ sinh răng miệng.

Điều trị triệu chứng:

  • Nếu trẻ sốt cao, dùng Acetaminophene hoặc Paracetamol 15mg/kg/lần, 4 giờ/ lần nếu sốt trên 38 oC và cho uống nhiều nước. Kết hợp với các biện pháp như: lau mát tích cực.
  • Vitamin A: cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở xuống 100.000 đơn vị, trẻ trên 12 tháng tuổi 200.000 đơn vị

Nếu trẻ bị bội nhiễm thì điều trị các bệnh lý kèm theo.

Cách chăm sóc người bị bệnh sởi và phòng lây lan ra cộng đồng như thế nào?

Điều trị tại nhà nếu dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng:

  • Theo dõi nhiệt độ hàng ngày
  • Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng dung dịch nước muối 9‰ để viêm kết mạc
  • Tắm rửa sạch bằng nước ấm để tránh nhiễm trùng và lở loét
  • Dinh dưỡng đầy đủ, thức ăn dễ tiêu và giàu dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin A.
  • Nên nằm phòng riêng (thoáng, sáng, tránh gió lùa).
  • Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi có chỉ định của thầy thuốc.

Đưa đến cơ sở y tế ngay khi các dấu hiệu nặng lên:

  • Sốt cao, ho nhiều, tiêu chảy nặng…
  • Ban sởi lặn hết mà vẫn còn sốt
  • Các dấu hiệu biến chứng về tai, phổi, tiêu hóa, mắt…….

Làm gì để phòng ngừa bệnh sởi?

  • Dùng khăn hoặc tay che miệng khi ho, hắt hơi.
  • Rửa tay trước khi ăn và trước khi chế biến thức ăn.
  • Tiêm phòng sởi. Đây là biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh sởi. Trẻ được tiêm phòng Vaccine sống giảm độc lực 1 lần, thường vào tháng thứ 9 (theo lịch chương trình tiêm chủng Quốc gia). Do miễn dịch bảo vệ của vaccine chỉ đạt được 90% và với sự giảm miễn dịch dần theo thời gian, nên tiêm phòng mũi thứ 2 cho trẻ sau mũi 1 khoảng 5 năm.
  • Tăng sức đề kháng cho trẻ bằng chế độ ăn uống đầy đủ các vitamin và khoáng chất. Có thể bổ sung bằng các men vi sinh có chứa chất xơ hòa tan (men vi sinh có chứa hai thành phần probiotic  và prebiotic), giúp tăng sức đề kháng, tăng đào thải các nguồn vi khẩn có hại và tăng cường hấp thu dinh dưỡng cho trẻ.

Tác giả :  Ths.Bs Vũ Văn Lực

 

© 2013 Copyright Bé khỏe mẹ vui.